User Tools

Site Tools


0334--th-i-th-y-th-i-th-yla-gi

Thái Thủy là một xã thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Thủy nằm ở phía nam của huyện Thái Thụy cách thị trấn Diêm Điền khoảng 7 km và thành phố Thái Bình khoảng 30 km. Mật độ dân số là 830 người/km³.

  • Phía Đông giáp xã Thái Nguyên ngăn cách sông Khai Lai
  • Phía Tây giáp xã Thái Hồng, Thái Dương ngăn cách sông Vị Dương
  • Phía Nam giáp thị trấn Thái Ninh ngăn cách sông Khai Lai.
  • Phía Bắc giáp xã Thụy Sơn ngăn cách sông Diêm Hộ

Là xã thuộc vùng đất được hình thành từ lâu đời. Trước những năm 1945 Thái Thủy thuộc xã Hồng Hưng, Phủ Đông Quan bao gồm 3 xã Thái Thủy và Thụy Sơn, Thái Dương ngày nay của huyện Thái Thụy.

Xã Thái Thủy có vị trí khá thuận lợi, nằm cách trung tâm của huyện khoảng 7 km về phía đông bắc và cách biển khoảng 10 km về phía đông. Trên địa bàn xã có trục quốc lộ 39A dài 2,5 km đường trục 65 chạy qua, có ba con sông chạy qua là: sông Diêm Hộ phía đông bắc dài khoảng 3 km, sông Khai Lai ở phía đông nam dài khoảng 2,5 km và sông Vị Dương phía tây dài khoảng 2 km, các con sông là nguồn nước dồi dào cho phát triển nông nghiệp. Cùng với giao thông thủy bộ khá phát triển, tạo điều kiện cho Thái Thủy thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội cũng như việc tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ và tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức trong và ngoài nước. Tạo đà cho xã và huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng; thương mai, dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp.

Địa hình địa mạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mang nét đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ sông hồng, được bồi đáp bởi hai con sông lớn (sông Trà Lý và sông Thái Bình), tạo cho địa hình địa lý của xã khá bằng phẳng, với độ dốc <1% thấp dần từ khu dân cư ra sông. Tính chất bằng phẳng của địa hình chỉ bị chia cắt bởi sông ngòi, kênh mương và một số gò nằm rải rác. Cao trình biến thiên phổ biến từ 0,7 – 1,25 m so với mực nước biển. Mức độ chệnh lệch địa hình không quá 1m. Địa hình của xã Thái Thủy nhìn chung bằng phẳng dốc dần từ bắc xuống nam.

Đặc điểm khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thái Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song với đặc thù là một xã gần biển nên ở đây ngoài khí hậu lục địa còn mang đặc trưng của khí hậu miền duyên hải được điều hòa với biển cả (mùa đông thường ấm hơn, mùa hè thường mát hơn so khu vực nằm trong lục địa).

Theo số liệu của quan trắc khí tượng thủy văn:

  • Chế độ nhiệt: Chế độ nhiệt tương đối ổn định, tổng nhiệt lượng cả năm khoảng 1.600 – 1.800 KCQ/cm²/năm; số giờ nắng trong năm khoảng 1.600 – 1.800 giờ/năm. Nhiệt độ bình quân năm từ 230 – 240C, nhiệt độ cao nhất 390C vào tháng 6,7,8. nhiệt độ thấp nhất 50 – 90C vào tháng 01, 02. Biên độ dao động giữa ngày và đêm khoảng 80 – 100C. giữa ngày nóng và ngày lạnh khoảng 150 – 200C.
  • Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn, lượng mưa cao nhất 1860 mm vào tháng 4,5 và tháng 7,8; lượng mưa thấp nhất 1716 mm vào tháng 11,12. Số ngày mưa trong năm 150 ngày/năm, phân bố không đều trong năm và được chia làm 2 mùa rõ rệt.

Mùa mưa tháng 4 đến tháng 10 chiếm tới 80% lượng mưa cả năm. Vào mùa này lượng mưa cao có ngày cường độ mưa cao lên tới 200 – 350 mm/ngày. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, với tổng lượng mưa khoảng 20% lượng mưa cả năm, các tháng 12 tháng 1 lượng mưa thường nhỏ hơn lượng bốc hơi, tháng 2 và tháng 3 thời kỳ mưa phùn ẩm ướt.

  • Độ ẩm không khí; vào cuối mùa đông khí hậu ẩm ướt, nồm mưa phùn, độ ẩm khá cao từ 82% – 94%. Mùa hè do ảnh hưởng của biển nên dịu nắng độ ẩm dao động từ 82 – 90%.
  • Chế độ gió: Mùa hè hướng gió thịnh là gió đông nam mang theo không khí nóng ẩm, tốc độ gió trung bình là 2–5 m/giây, thời gian này thường hay xuất hiện bão từ tháng 6 đến tháng 10, nhiều nhất là tháng 8 (32,5%), tháng 9 (25%) và tháng 7 (22,5%). Mỗi năm có từ 2 -3 cơn bão có năm đến 6 cơn bão, cấp gió trung bình từ cấp 8 đến cấp 11 đồng thời mang theo mưa lớn gây úng, lụt thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. mùa đông mang theo không khí giá lạnh, ẩm thấp, ẩm ướt.

Nhìn chung khí hậu của Thái Thủy khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đa dạng hóa cây trồng. Tuy nhiên do sự phân hóa của thời tiết theo mùa cùng những hiện tượng thời tiết như; giông, bão, vòi rồng, lốc soáy, gió mùa đông bắc khô hanh… gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của nông dân. do đó phải có những biện pháp quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp, bố trí các loại giống cây con thích hợp để phòng chống và tránh những thiệt hại do thiên tai gây ra.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Là xã thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, Thái Thủy có hệ thống sông ngòi, kênh mương tương đối hoàn thiện, sông Diên Hộ phía bắc, sông Vị Dương ở phía tây, sông Khai Lai ở phía nam và hàng chục km kênh mương, ao hồ… là nguồn nước dồi dào đáp ứng đủ cho nhu cầu sinh hoạt và phát triển nông nghiệp. Nhìn chung hệ thống sông, ngòi, kênh mương của xã Thái Thủy tương đối khép kín nguồn nước dồi dào thuận lợi cho việc thau chua rửa mặn phát triển các loại cây trồng và phục vụ cho chăn nuôi.

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích đất tự nhiên là 429,45 ha, trong đó:

  • Đất Nông nghiệp: 314,15 ha. Bao gồm:
    • Đất sản xuất nông nghiệp: 277,5 ha
    • Đất nông nghiệp khác 0,29 ha
    • Diện tích nuôi trồng thủy sản: 36,35 ha.
  • Đất phi nông nghiệp: 114,4 ha
    • Đất ở: 22,47 ha
    • Đất chuyên dùng: 90,62 ha.
    • Đất tôn giáo tín ngưỡng: 0,02 ha.
    • Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 1,25 ha
    • Đất có mặt nước chuyên dùng: 0,06 ha.
  • Đất chưa sử dụng: không có.

Tổng diện tích đất canh tác là 314,15 ha, chiếm 73,15% tổng diện tích đất tự nhiên.

Theo kết quả điều tra nông hóa, thổ nhưỡng trên diện tích đất nông nghiệp khoảng 277,63 ha. Đất đai ở xã Thái Thủy có ba loại chính:

Với diện tích chiếm khoảng 0,03% điện tích đất nông nghiệp, phân bố tập trung ở cánh đồng thuộc thôn Minh Khai. Đặc điểm của nhóm đất này là có dạng hạt thô lớn, dung tích hấp thụ thấp, các dinh dưỡng tổng số dễ tiêu nghèo, sâu dưới tầng cát dày từ 2 – 3 m mới thấy trầm tích biển (lớp vỏ sò, lớp cát thuần xen lẫn phổ tích và các loại cây sú, vẹt…). Trong đó toàn bộ đất cát giồng (Cz) với diện tích khoảng 10 ha. Chiếm tỷ lệ 100% đất cát.

Chiếm diện tích khoảng 70 ha. Đặc điểm của nhóm đất này là có màu nâu tươi của phù sa do nhiễm mặn nên có ánh sắc tím. Ở lớp mặt PHKCL từ (4,5 – 5,5), các lớp sâu hơn trên 6 và thường ở mức yếu (7 - 9). Nồng độ Ca++ trao đổi từ 3 – 8 1dl/100g. Mg++ trao đổi từ 3 – 101dl/100g. Tỷ số Ca/ Mg thường nhỏ hơn 1,5. Số muối hòa tam ở mức trung bình từ (0,1 – 0,7%). Chất dinh dưỡng hữu cơ tổng số ở mức trung bình đến khá từ (1 – 3%), đạm trung bình (0,1 – 0,16%), lân và ka ly tổng số cao (1,7 – 2,3%). Loại đất này độ mặn làm giảm độ phì nhiêu thực tế, làm ẩnh hưởng đến năng suất cây trồng. Biện pháp làm giảm độ mặn là tích cực rửa mặn, nâng cao áp lực nước ngọt ở toàn bộ hệ thống kênh, mương… đẩy lùi nguồn nước mặn ra biển. Nhóm đất mặn được chia ra ba loại chính: - Đất mặn nhiều (Mn): Chiếm 28% diện tích đất mặn - Đất mặn trung bình (M): Chiếm 36,71% diện tích đất mặn - Đất mặn sú vẹt (Mm): Chiếm 35,27% diện tích đất mặn

  • Nhóm đất phèn mặn (SM):

Có diện tích khoảng 207 ha, là đất có màu vàng rơm pha lẫn trắng giống như xỉ vôi nằm cách mặt đất khoảng 25 – 26 cm. Độ PHKcl thấp 3,5 - 4,5 Fe++ và Al++ di động cao, chiếm 74,2% diện tích điều tra được chia làm hai loại chính:

- Đất phèn tiềm tàng mặn nhiều (SMn) có diện tích khoảng 107 ha, chiếm 51,7% diện tích đất phèn - Đất phèn tiềm tàng mặn ít, trung bình (SMi): có khoảng 100 ha, chiếm 48,30% diện tích đất phèn.

Tài nguyên nước[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn nước mặt được cung cấp bởi ba con sông; Sông Diêm Hộ, sông Vị Dương và sông Khai lai, cùng hệ thống kênh mưng ngòi tương đối hoàn thiện và khoảng 28 ha mặt nước nuôi trồng thủy hải sản; bao gồm các hồ, ao nằm rải rác ở các hộ trong khu dân cư, các vùng chuyển đổi và khu vực lợi nước. Hàng năm tổng lượng dòng chảy lên tới hàng ngàn m³ nước kết hợp với lượng mưa khá lớn… Nhìn chung, nguồn nước mặt đủ đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản.

Nguồn nước ngầm: Qua các hố khoan khảo sát trên phạm vi toàn xã, có thể đánh giá nguồn nước ngầm trên phạm vi toàn xã có thể phục vụ cho sinh hoạt nhưng thộc dạng nghèo nước, mỗi giếng khoan có thể chỉ có 40 – 60 m³ nước/trên 1 ngày đêm và nằm rải rác ở tầng nông trên 20 m, giá thành khai thác và chất lượng khai thác không cao. Trên địa bàn xã Thái Thủy ở tầng chứa nước 20 – 250 m đều bị nhiễm mặn, nên việc khai thác nước ngầm có quy mô lớn dùng cho sinh hoạt là không khả thi, đồng thời thường xuyên nước mặn thẩm thấu vào trong đất liền.

Thái Thủy là một xã có nền văn hóa truyền thống lâu đời, mang đậm nét văn hóa của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Những truyền thuyết về các vị anh hùng, các danh nhân văn hóa và các phong tục sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa lành mạnh vẫn được bảo tồn và phát triển. Địa phương đã được Chủ tịch nước Việt Nam phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

- Dân số trung bình tính đến 30/12/2010 là 3.074 người với 826 hộ phân bố không đồng đều ở 4 thôn trong địa bàn toàn xã.

Tỷ lệ sinh 2004: 0,8%; 2005: 1,1%; 2006: 0,9 %.

Tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm: Năm 2004: 1ka; 2005: 0; 2006: 0.

- Lao động việc làm: có 1986 nhân khẩu trong độ tuổi lao động trong xã. Trong đó lao động Nông nghiệp là chủ yếu, khoảng 20% lao động thường xuyên đi làm ăn xa, một số ngành nghề như nghề xây, mộc, nghề mây tre đan, thêu ren, dệt bao... mới chỉ có 250 người thường xuyên có việc làm (số liệu thống kê: 7/2007). Số người kinh doanh dịch vụ đạt ở mức thấp. Số người có phương tiện lao động còn rất ít: công nông: 9 người, làm máy tuốt và xay sát: 34 người, máy cày bừa: 30 người. Nhìn chung quỹ thời gian lao động chỉ sử dụng hết khoảng 60%.

Như vậy số lao động nông nhàn còn chiếm tỉ lệ cao. Người lao động chỉ chủ yếu lao động nông nghiệp cấy lúa - thu hoạch một năm 2 mùa, kèm theo mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ theo tập quán (mỗi hộ một hoặc hai con lợn, vài con gà vịt, thậm chí có hộ chỉ nuôi một con lợn không chăn nuôi gia cầm). Vì vậy ngoài việc làm nông nghiệp như trên thì người lao động không có việc làm khác khoảng 1.200 người trong tổng số 1.986 lao động.

Do địa phương là 1 xã nông nghiệp, nhân dân lao động sống chủ yếu bằng nghề nông với ngành trồng trọt là chủ yếu, chăn nuôi chậm phát triển, ngành nghề phụ còn hạn chế đến nay đã thu nhập được một số nghề phụ.... Đời sống của nhân dân đến nay đã bớt dần những khó khăn. Thu nhập bình quân đầu người là 22- 23 triệu đồng/người/năm bằng so với mức bình quân của huyện. Số hộ giàu khoảng 30-40%, số hộ nghèo còn ở mức 7-8%, cơ bản là mức sống trung bình. Tuy vậy đời sống chung của nhân dân trong xã cơ bản được cải thiện: gần 50% số hộ gia đình có xe máy, 100% hộ gia đình có ti vi màu, 100% hộ sử dụng điện sáng, trên 90% hộ gia đình sử dụng nước sạch đến nay đã có nhiều hộ mua xắm các loại máy cày, máy gặt đập liên hoàn, máy làm đất vào sản xuất, mua xắm ô tô để vận chuyển buôn bán hàng hóa, nông sản và chở kháhh. Đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao, toàn xã có 4/4 làng đã xây dựng và khai trương hương ước thôn làng văn hóa, Chùa Phổ Linh được nâng cấp xây dựng khang trang, Miếu Đông thờ Thần nữ Mỵ Lương Cung Phi đã được phong Thượng Đẳng Thần đã được phục hồi. 85% số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa. Đến nay nhân dân địa phương đã thực hiện dồn điền đổi thửa chỉnh trang đồng ruộng đất nông nghiệp, hoàn thành 13/19 theo tiêu chí xây dựng "nông thôn mới".

- Hệ thống giao thông liên xã là 8 km, liên thôn đã được nâng cấp bê tông hóa, không còn đường lầy lội. Có trục đường 65 liên huyện đang được tổ chức thi công, cầu trà Linh với nguồn kinh phí 174 tỷ đồng đang thi công và quốc lộ 39A chạy qua xã cũng được nâng cấp theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng

- Hệ thống giao thông thủy chưa chưa được phát huy ở xã Thái Thủy. Công trình thủy lợi bao bọc quanh xã, sông ngòi chủ yếu là phục vụ cho công tác sản xuất, tưới tiêu nước.

- Hệ thống điện được xây dựng từ năm 1989, lúc đầu chủ yếu là phục vụ sản xuất nông nghiệp và đã dần chuyển sang phục vụ sinh hoạt của nhân dân và sản xuất khác. Đến nay đã được nâng cấp mới theo dự án RE:II hệ thống cáp vặn xoắn, gồm 4 trạm biến áp. Như vậy với mạng lưới điện như hiện nay đã đáp ứng đủ nguồn điện phục vụ phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân.

- Hệ thống nước sạnh đang được khẩn trương thi công với nguồn kinh phí 7,2 tỷ đồng đang được lắp đặt các ống nước vào các khu dân cư, sẽ được đưa vào sử dụng vào quý 4 năm 2013.

- Hệ thống thông tin liên lạc: cùng với sự tăng trưởng kinh tế và đáp ứng nhu cầu cuộc sống trong hoạt động kinh tế xã hội. Thái Thủy đã quan tâm phát triển hệ thống thông tin từ rất sớm. Đến nay vẫn duy trì tốt mạng lưới truyền thanh bao gồm: 50 loa công cộng, không dây 100% hộ được nghe loa truyền thanh thường xuyên nắm được thông tin cấp góp phần quan trọng trong lãnh đạo điều hành phát triển kinh tế xã hội. Toàn xã có 190 máy điện thoại cố định và các hệ thống thông tin khác đang sử dụng và tiếp tục tăng trong thời gian tới.

0334--th-i-th-y-th-i-th-yla-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:09 (external edit)